Nguyên nhân và cách trị bệnh chốc đầu ở trẻ nhỏ

Bệnh chốc đầu hay còn gọi là bệnh nấm da đầu, thường hay gặp ở trẻ nhỏ, loại nấm này gây ngứa ngáy, khó chịu , làm ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ, khiến cho các mẹ đau đầu, dưới đây là một số nguyên nhân gây ra bệnh chốc đầu ở trẻ.

1. Những dấu hiệu nhận biết chốc đầu

Theo các bác sĩ thì hiện nay bệnh chốc đầu có hai loại chốc đầu có bọng nước và loại chốc đầu không có bọng nước.

Chốc có bọng nước

  • Trẻ có những vết lở màu đỏ, nhìn bên trên có nổi bọng nước, khi các bọng nước này bị vỡ ra sẽ có dịch màu vàng và không có để lại sẹo. Theo các bác sĩ nguyên nhân gây lên bệnh là do tụ cầu khuẩn hoặc liên cầu đã xâm nhập vào các vết thương của bé.

Chốc không có bọng nước

  • Đối với trẻ bị chốc không có bọng nước thì sẽ thấy có những mụn nước nhỏ trên đầu, nhưng rất nhanh chóng ẩn đi xung quanh miệng và mũi, chốc không có bọng nước thường kéo dài 2- 3 tuần, nguyên nhân gây ra là do độc tố bong da của tụ cầu.

Bệnh chốc đầu ở trẻ thường sẽ thấy các dấu hiệu như các mảng tóc, sau đó tróc ra khỏi da đầu, đầu có vảy nhỏ gây ngứa khó chịu, đau, và chốc đầu gây ra tóc rất dễ bị rụng, có những trường hợp gây sốt nhẹ.

Nếu như bệnh chốc đầu có diễn biến nặng thì có thể gây ra rất nhiều mảng, lớp sưng tấy, tạo lên các vết hói viễn viễn, không mọc tọc tại chỗ đó.

2. Nguyên nhân gây chốc đầu

Theo các bác sĩ da liễu cho biết thì bệnh chốc đầu nguyên nhân được gây ra bởi một loại nấm dermatophytes . Đây là một loại nấm dễ phát triển ở nơi có điều kiện vùng ấm áp, ẩm trên các lớp biểu bì như móng tay, tóc, trên da ẩm ướt. Và dưới đây là một số nguyên nhân dẫn đến bị bệnh chốc đầu.

  • Nguyên nhân lây từ người bệnh qua người khỏe mạnh như va chạm trực tiếp, hoặc sử dụng chung đồ như mặc chung quần áo, sử dụng chung khăn tắm…. Hoặc do nguyên nhân vệ sinh chưa được sạch sẽ.
  • Người bị chốc đầu bị lấy từ các loài động vật nuôi trong nhà như chó , mèo..
  • Trường hợp bệnh chốc đầu cũng bị lây qua khi trẻ đi học, các nhà trẻ có bé bị nấm, và lây sang các bạn khác, hoặc nhà trẻ vệ sinh chưa được kĩ, tạo điều kiện bệnh lây lan.
  • Đối với người có hệ miễn dịch suy yếu như mắc bệnh HIV, AIDS sẽ có xu hướng rất nguy hiểm.

3. Cách phòng tránh và điều trị

Dưới đây là một số cách để bạn có thể phòng tránh bệnh chốc đàu ở trẻ:

  • Hãy thường xuyên tắm rửa vệ sinh cho bé được sạch sẽ, cắt móng chân, móng tay, và không sử dụng chung đồ cá nhân.
  • Nếu như nhà bạn có nuôi những động vật như chó mèo, thú cưng thì cần vệ sinh, chích ngừa, và tránh cho bé tiếp xúc chơi chung với những con vật này.
  • Tránh cho bé chơi ở những nơi ẩm ướt để tránh bị côn trùng đốt.
  • Cho bé uống nhiều nước, ăn nhiều rau củ quả

Điều trị:

Bạn có thể sử dụng dầu gội có chứa keteconazol đây là thành phần có chứa hoạt chất chống nấm hiệu quả. hoặc có thể dùng những loại sau:

a. Dung dịch sát trùng:

  • Thường thấy nhất là nước muối 0,9% ( khi bệnh nhẹ) và dung dịch berberin ( chỉ dùng khi bệnh nặng) giúp kìm hãm hoặc tiêu diệt vi khuẩn tại vết thương và khu vực xung quanh.
  • Cách dùng: Pha dung dịch với nước hoặc thấm vào bông và lau lên nốt tổn thương ( nước muối thực hiện tương tự, không cần pha thêm nước).

b. Thuốc màu

Phổ biến nhát là dung dịch Xanh Methylen và dung dịch chứa i-ốt

  • Xanh Methylen có khả năng gắn kết với các tiểu thể trong vi khuẩn và làm hư hỏng chức năng của các tiểu thể này. Từ đó phá vỡ phản ứng ô-xy hóa trong chuyển hóa dinh dưỡng của vi khuẩn khiến vi khuẩn không thể sống sót. Sử dụng bằng cách thấm ướt xanh metylen vào tăm bông và bôi lên các nót tổn thương

Dung dịch chứa i-ốt, betadin, povidine: Có khả năng sát khuẩn tốt. Dung dịch này phản ứng mạnh theo phản ứng trao đổi ion với các enzym ô-xy hóa khủ ở màng tế bào vi khuẩn khiến các tế bào này mất đi tính năng, vi khuẩn không thể thực hiện chuyển hóa. Không chỉ vậy, i-ốt còn có thể làm biến tính các phân tử protein màng và xuyên màng, làm hư hỏng các protein màng và xuyên màng, từ đó làm hư hỏng các protein này. Sử dụng bằng cách thấm vào tăm bông và bôi vào các bốt tổn thương.

Lưu ý: Tránh dùng các dung dịch i-ốt quá cao vì có thể gây ngộ độc, viêm loét vì quá tải nồng đội i-ốt cho cơ thể. Tốt nhất là dùng dung dịch i-ốt đóng chai.

c. Thuốc bột và thuốc mỡ bôi tại chỗ.

Hai loại thông dụng: bột kháng sinh chlorocid và mỡ tetracyclin.

  • Bột kháng sinh chlorocid: Có khả năng kháng khuẩn mạnh, kìm hãm sự phát triển và tiêu diệt vi khuẩn. Đồng thời còn có chức năng hút dịch, tại vẩy che nốt tổn thương, chống nhiễm khuẩn. Sử dụng loại thuốc này bằng cách rắc lên vết tổn thương là được.
  • Mỡ tetracyclin: có khả năng kìm vi khuẩn và tiêu diệt vi khuẩn. Cách dùng đơn giản, bạn chỉ cần bôi lên vết thương trước khi đi ngủ là được.

Trường hợp thấy bệnh tiến triển nặng nề, hãy đưa bé đến viện để các bác sĩ có tư vấn, điều trị cụ thể.

Related posts